Trận Như Nguyệt diễn ra đầu năm 1077 trên sông Như Nguyệt, tức đoạn sông Cầu chảy qua vùng Bắc Ninh ngày nay, khi quân nhà Lý do Lý Thường Kiệt chỉ huy chặn đứng cuộc tấn công của nhà Tống do Quách Quỳ, Triệu Tiết cầm đầu. Quân Tống không vượt được sông, bị tiêu hao vì giao chiến và bệnh tật suốt nhiều tuần, rồi chấp nhận rút về khi Lý Thường Kiệt chủ động đề nghị giảng hòa. Đây là trận phòng ngự bằng chiến tuyến sông tiêu biểu nhất của sử Việt.
Trước trận: "tiên phát chế nhân"
Muốn hiểu Như Nguyệt phải bắt đầu từ năm 1075. Khi ấy triều Tống dưới thời Tống Thần Tông, với các cải cách của Vương An Thạch, có ý đồ đánh Đại Việt: tích trữ lương thảo, luyện quân ở các châu biên giới Quảng Tây, Quảng Đông.
Lý Thường Kiệt chọn cách đánh trước. Cuối năm 1075, quân Lý chia đường thủy bộ tấn công các châu Khâm, Liêm và Ung của nhà Tống. Thành Ung Châu bị vây hơn một tháng rưỡi, đến đầu năm 1076 thì thất thủ; tri châu Tô Giám tự thiêu. Quân Lý phá các kho tàng, đồn trại phục vụ cuộc xâm lược đang được chuẩn bị, rồi rút về.
Truyền rằng trong chiến dịch này quân Lý đã yết một văn bản kể tội triều Tống gây khổ cho dân bằng tân pháp, để nói rằng mình đánh vào bộ máy chiến tranh chứ không nhằm vào dân Tống. Văn bản này được biết đến với tên Phạt Tống lộ bố văn, chỉ còn lại một phần qua trích dẫn.
Cuộc tập kích làm chậm kế hoạch của nhà Tống nhưng không ngăn được nó. Cuối năm 1076, quân Tống kéo sang.
Lực lượng hai bên
| Nhà Tống | Nhà Lý (Đại Việt) | |
|---|---|---|
| Chỉ huy | Quách Quỳ (chủ tướng), Triệu Tiết (phó) | Lý Thường Kiệt, cùng các tướng và hoàng tộc nhà Lý |
| Quân số | Theo các nguồn Tống, khoảng 10 vạn quân chiến đấu, cùng một lực lượng phu vận chuyển lớn gấp nhiều lần; một đạo thủy quân đi đường biển | Không có số liệu tin cậy |
| Đường tiến | Từ Quảng Tây qua vùng Lạng Sơn xuống phía nam | Phòng thủ dọc bờ nam sông Như Nguyệt, có quân chặn ở biên giới và quân chặn thủy quân ngoài biển |
| Điểm mạnh | Quân đông, kỵ binh, có kinh nghiệm chiến tranh với Tây Hạ | Hiểu địa hình, có chiến tuyến sông chuẩn bị sẵn, thủy quân mạnh |
| Điểm yếu | Đường tiếp tế dài, khí hậu xa lạ, phụ thuộc vào việc thủy quân đến hội | Phải giữ một chiến tuyến dài, không được để vỡ ở bất cứ điểm nào |
Phòng tuyến sông Như Nguyệt
Từ Lạng Sơn xuống Thăng Long, quân Tống phải vượt một loạt sông, và sông Cầu là lá chắn cuối cùng trước kinh thành. Lý Thường Kiệt cho đắp luỹ đất dọc bờ nam, cắm rào tre, đặt quân ở những bến có thể vượt. Theo các nghiên cứu hiện đại, chiến tuyến kéo dài nhiều chục cây số dọc sông Cầu, tập trung vào những đoạn bờ bắc có bãi rộng, nơi quân Tống có thể tập kết.
Ý tưởng cốt lõi: đừng ra chặn quân Tống ở vùng núi phía bắc, nơi lực lượng mỏng sẽ bị nghiền nát, mà để họ tiến đến một con sông lớn, rồi buộc họ phải đứng trên bờ bắc, xa căn cứ, không có thuyền.
Thủy quân Tống không đến được
Quân bộ Tống cần thủy quân để vượt sông. Nhưng đạo thủy quân đi đường biển bị quân Lý chặn đánh ngoài vùng biển đông bắc, không vào được hệ thống sông. Đây là chi tiết thường bị bỏ qua nhưng mang tính quyết định: không có thuyền, mấy vạn quân bộ Tống đứng trước sông Cầu gần như bị giam lỏng.
Diễn biến trận đánh
- Tháng 12 năm 1076 – tháng 1 năm 1077: quân Tống vượt biên giới, đánh qua các ải phía bắc, tiến xuống tới bờ bắc sông Như Nguyệt và đóng trại.
- Những lần thử vượt sông: Quách Quỳ cho đóng bè, bắc cầu phao, đưa một bộ phận quân vượt sang bờ nam. Lực lượng này đánh vào chiến tuyến, có lúc chọc thủng được một đoạn, nhưng bị quân Lý phản kích đẩy lùi xuống sông, thiệt hại nặng.
- Giằng co: sau thất bại, Quách Quỳ không dám vượt sông lớn nữa, ra lệnh giữ trại chờ thủy quân. Trong khi chờ, quân Tống bị dịch bệnh hoành hành, lương thực cạn dần.
- Phản công của quân Lý: có ghi chép về những đợt quân Lý vượt sông đánh vào doanh trại Tống, gây thêm thiệt hại. Cũng có những trận quân Lý chịu tổn thất; sử Tống chép một trận thủy chiến mà phía Lý mất nhiều người, có cả người trong hoàng tộc.
- Giảng hòa, khoảng tháng 3 năm 1077: Lý Thường Kiệt cho người sang đề nghị giảng hòa. Quách Quỳ, trong cảnh tiến không được mà ở lại thì chết dần, chấp nhận và rút quân.
Theo các nguồn sử Tống, số quân và phu chết trong chiến dịch lên tới hơn một nửa, phần lớn vì bệnh tật và khí hậu chứ không phải vì giao chiến. Con số chính xác vẫn còn bàn luận, nhưng cả hai phía đều thừa nhận cuộc viễn chinh là một tổn thất rất lớn của nhà Tống.
Vì sao lại chủ động xin hòa khi đang thắng
Đây là điểm khiến nhiều người đọc lần đầu ngạc nhiên. Lý Thường Kiệt có thể đánh tiếp để tiêu diệt quân Tống, sao lại đề nghị hòa?
- Tương quan lâu dài: nhà Tống lớn hơn Đại Việt nhiều lần. Một chiến thắng huỷ diệt sẽ khiến triều Tống mất mặt và có thể đưa tới cuộc chiến trả thù lớn hơn.
- Cho đối phương lối thoát: Quách Quỳ được rút quân trong danh dự, không phải báo về triều một thất bại nhục nhã. Điều đó khiến việc chấm dứt chiến tranh dễ dàng hơn.
- Tiết kiệm sức mình: đánh vào một đạo quân bị dồn vào đường cùng luôn tốn kém, binh pháp xưa gọi là đừng ép giặc cùng đường.
Cái giá là nhà Tống tạm giữ một số châu biên giới như Quảng Nguyên. Sau đó nhà Lý tiếp tục đòi bằng đường ngoại giao, và khoảng năm 1079, Quảng Nguyên được trả lại sau khi hai bên trao đổi tù binh. Đánh để giữ nước, rồi dùng ngoại giao để lấy lại phần còn lại: đây là một mô hình mà Lê Lợi và Quang Trung về sau cũng đi theo.
Bài thơ "Nam quốc sơn hà": sử liệu hay truyền thuyết
Nói đến Như Nguyệt là người ta nghĩ đến bài thơ:
Nam quốc sơn hà Nam đế cư / Tiệt nhiên định phận tại thiên thư / Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm / Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư.
Đại Việt sử ký toàn thư chép rằng trong thời gian chống Tống, Lý Thường Kiệt cho người ban đêm vào đền thờ hai vị thần anh em Trương Hống, Trương Hát bên sông ngâm bài thơ này, binh lính nghe thấy đều phấn chấn. Tuy vậy, cần biết những điểm sau:
- Bài thơ cũng xuất hiện trong các sách thần tích như Việt điện u linh và Lĩnh Nam chích quái, có bản gắn với cuộc chống Tống thời Lê Hoàn năm 981 chứ không phải năm 1077.
- Có nhiều dị bản khác nhau về câu chữ.
- Bài thơ được trình bày như lời thần đọc, không phải lời ký tên của Lý Thường Kiệt. Việc ông là tác giả là cách hiểu phổ biến, nhưng giới nghiên cứu văn bản học vẫn còn tranh luận.
Cách nói chính xác nhất: "Nam quốc sơn hà" là bài thơ được truyền tụng gắn với cuộc kháng chiến chống Tống, theo Toàn thư thì gắn với trận Như Nguyệt; tác giả và thời điểm ra đời còn là vấn đề học thuật. Điều đó không làm giảm giá trị của bài thơ như một tuyên ngôn về chủ quyền.
Một tranh luận khác: sử Tống gọi con sông nơi diễn ra trận đánh là "Phú Lương", và có ý kiến cho rằng Phú Lương ở đây không hẳn trùng với sông Như Nguyệt. Đa số nhà nghiên cứu vẫn đồng nhất nó với sông Cầu đoạn qua Bắc Ninh.
Góc nhìn hôm nay: đi đâu, đọc gì
- Dọc sông Cầu ở Bắc Ninh: có các đền, đình gắn với trận đánh và với tín ngưỡng thờ Trương Hống, Trương Hát, tiêu biểu là đền Xà ở vùng ngã ba sông thuộc Yên Phong cũ. Đi dọc đê sông Cầu sẽ thấy rõ vì sao con sông là lá chắn tự nhiên: lòng sông sâu, bờ bắc là bãi rộng phơi ra trước tầm nhìn bờ nam.
- Đền thờ Lý Thường Kiệt: có ở nhiều nơi, trong đó có các đền ở Hà Nội và vùng Bắc Ninh.
- Sách nên đọc: Lý Thường Kiệt – Lịch sử ngoại giao và tông giáo triều Lý của Hoàng Xuân Hãn, công trình kinh điển đối chiếu kỹ nguồn Tống và nguồn Việt; phần Kỷ nhà Lý trong Đại Việt sử ký toàn thư và Việt sử lược.
Cuốn của Hoàng Xuân Hãn đáng đọc nhất vì nó cho thấy cách một sử gia làm việc: đặt từng câu trong sử Tống cạnh câu trong sử Việt, chỉ ra chỗ hai bên cùng nói và chỗ mỗi bên giấu bớt.
Câu hỏi thường gặp
Sông Như Nguyệt ngày nay là sông nào?
Sông Như Nguyệt là tên gọi xưa của đoạn sông Cầu chảy qua vùng Bắc Ninh. Đây là lá chắn tự nhiên cuối cùng trên đường từ Lạng Sơn về Thăng Long, nên Lý Thường Kiệt chọn làm chiến tuyến chống Tống.
Trận Như Nguyệt diễn ra năm nào?
Quân Tống tới bờ bắc sông Như Nguyệt khoảng cuối năm 1076, đầu năm 1077. Giao tranh và giằng co kéo dài nhiều tuần, đến khoảng tháng 3 năm 1077 thì hai bên giảng hòa và quân Tống rút về.
Ai chỉ huy quân Tống ở trận Như Nguyệt?
Chủ tướng quân Tống là Quách Quỳ, phó tướng là Triệu Tiết. Sau khi rút quân về, cả hai đều bị triều Tống trách phạt vì thất bại của cuộc viễn chinh.
Lý Thường Kiệt có phải tác giả bài Nam quốc sơn hà không?
Đây là cách hiểu phổ biến, nhưng chưa phải kết luận chắc chắn. Toàn thư chép bài thơ được ngâm trong đền thờ thần trong thời gian chống Tống, còn các sách thần tích có dị bản và có bản gắn với năm 981; tác giả thật sự vẫn là vấn đề giới nghiên cứu còn bàn.
Vì sao Lý Thường Kiệt chủ động giảng hòa?
Nhà Tống mạnh hơn nhiều lần, một chiến thắng huỷ diệt có thể kéo theo cuộc chiến trả thù lớn hơn. Giảng hòa cho Quách Quỳ lối rút trong danh dự, chấm dứt chiến tranh nhanh và giữ sức cho Đại Việt; phần đất còn bị chiếm sau đó được đòi lại bằng ngoại giao.