Chiến TướngWiki
Tìm
Danh tướng Việt Nam

Trần Hưng Đạo và ba lần thắng Nguyên – Mông: diễn biến, cách cầm quân

Nhà Trần ba lần thắng Nguyên – Mông (1258, 1285, 1288); Trần Hưng Đạo tổng chỉ huy hai lần sau, tránh chỗ mạnh, giữ sức dân, đánh vào đường lương của địch.

Trần Hưng Đạo và ba lần thắng Nguyên – Mông: diễn biến, cách cầm quân

Đại Việt dưới triều Trần đã ba lần đánh bại quân Nguyên – Mông vào các năm 1258, 1285 và 1288. Trần Hưng Đạo (Trần Quốc Tuấn) là người cầm quân tổng chỉ huy ở hai lần sau, khi đế quốc Nguyên đã chiếm xong Trung Hoa và dồn sức lớn hơn hẳn xuống phương Nam. Chiến thắng của ông không đến từ một trận đánh may mắn mà từ một cách nghĩ nhất quán: tránh chỗ mạnh của địch, giữ sức dân, chờ địch mỏi rồi đánh vào chỗ yếu nhất là đường lương.

Trần Quốc Tuấn là ai

Trần Quốc Tuấn là con An Sinh vương Trần Liễu, anh ruột vua Trần Thái Tông. Năm sinh của ông không được sử ghi chắc chắn; nhiều tài liệu đặt vào khoảng năm 1228–1232, nhưng đây chỉ là con số suy tính. Năm mất thì rõ: ngày 20 tháng 8 năm Canh Tý (1300), tại phủ đệ Vạn Kiếp.

Gia đình ông mang một vết rạn lớn. Trần Liễu từng bị Trần Thủ Độ ép nhường vợ cho em trai là vua Thái Tông, ôm hận đến lúc mất và dặn con phải lấy lại thiên hạ. Đại Việt sử ký toàn thư chép rằng Quốc Tuấn ghi nhớ lời ấy nhưng không làm theo. Khi đất nước gặp giặc, ông đặt việc nước lên trên mối thù nhà.

Năm 1283, khi Nguyên chuẩn bị đánh lần hai, vua Trần Nhân Tông giao cho ông chức Quốc công tiết chế, thống lĩnh toàn bộ quân đội. Từ đây ông là người quyết định chiến lược chung chứ không chỉ chỉ huy một cánh quân.

Lần thứ nhất (1258): khi Trần Hưng Đạo chưa cầm quân chính

Cuối năm 1257, tướng Mông Cổ Ngột Lương Hợp Thai (Uriyangqadai) từ Vân Nam tiến xuống. Toàn thư chép vua Thái Tông sai Trần Quốc Tuấn đem quân giữ biên giới phía bắc, nhưng người chỉ huy chung là chính nhà vua cùng Thái sư Trần Thủ Độ.

Quân Trần thua ở Bình Lệ Nguyên, phải bỏ Thăng Long. Đây là lúc Trần Thủ Độ để lại câu nổi tiếng được Toàn thư ghi: đầu ông chưa rơi xuống đất thì xin bệ hạ đừng lo. Chỉ ít ngày sau, quân Mông Cổ thiếu lương và không chịu nổi khí hậu, bị đánh ở Đông Bộ Đầu và phải rút. Lần này Trần Hưng Đạo học được bài học quan trọng nhất: kỵ binh Mông Cổ đánh nhanh rất mạnh nhưng không chịu được chiến tranh kéo dài ở vùng đồng bằng sông nước.

Lần thứ hai (1285): rút khỏi kinh đô để giữ quân

Năm 1285, quân Nguyên do Trấn Nam vương Thoát Hoan, con trai Hốt Tất Liệt, chỉ huy tiến vào từ phía bắc. Một cánh khác của Toa Đô đi từ Chiêm Thành đánh thốc lên phía nam. Sử Việt ghi tổng quân địch khoảng 50 vạn; nhiều nhà nghiên cứu cho rằng con số thật thấp hơn, nhưng dù tính cách nào thì đây vẫn là đội quân đông hơn hẳn quân Trần.

Trước đó triều đình đã họp hai hội nghị lớn. Hội nghị Bình Than (1282) là nơi vua tôi, vương hầu bàn kế giữ nước. Hội nghị Diên Hồng (đầu năm 1285) thì mời các bô lão trong nước, và tiếng hô "đánh" của họ được sử sách ghi lại như biểu hiện của lòng dân. Cũng trong giai đoạn chuẩn bị này, Trần Hưng Đạo viết Hịch tướng sĩ để khích lệ các tướng dưới quyền.

Khi quân Nguyên tràn xuống, Trần Hưng Đạo không liều đánh chặn. Ông lui quân về Vạn Kiếp, rồi bảo vệ hai vua rút dần về phía nam, bỏ trống Thăng Long. Thế "vườn không nhà trống" khiến quân Nguyên chiếm được kinh thành nhưng không lấy được lương thực. Câu trả lời thường được dẫn của ông khi vua hỏi có nên hàng không, đại ý xin chém đầu thần trước rồi hãy hàng, được nhiều sách chép lại và trở thành hình ảnh tiêu biểu nhất về ông.

Đến mùa hè, khi quân Nguyên mỏi mệt, quân Trần phản công: thắng ở Hàm Tử, Chương Dương, chiếm lại Thăng Long, rồi diệt cánh quân Toa Đô ở Tây Kết, Toa Đô tử trận. Thoát Hoan rút về theo đường Vạn Kiếp, bị đánh dọc đường. Nguyên sử và sử Việt đều nói đây là cuộc rút chạy rất nhục; chuyện Thoát Hoan phải chui vào ống đồng để tránh tên được sử Việt chép lại.

Lần thứ ba (1287–1288): đánh vào đường lương

Cuối năm 1287, Thoát Hoan quay lại, lần này mang theo một đoàn thuyền lương lớn do Trương Văn Hổ phụ trách, vì Nguyên đã hiểu rằng thiếu lương là nguyên nhân thua lần trước. Tướng thủy quân Ô Mã Nhi dẫn thuyền chiến đi trước.

Trận quyết định đầu tiên lại không do Trần Hưng Đạo trực tiếp đánh. Ở Vân Đồn, phó tướng Trần Khánh Dư để thuyền chiến Ô Mã Nhi đi qua nhưng đánh tan đoàn thuyền lương theo sau. Mất lương, quân Nguyên chiếm được Thăng Long lần nữa mà vẫn đói. Đầu năm 1288, Thoát Hoan quyết định rút về.

Trần Hưng Đạo đoán trước đường rút của thủy quân là sông Bạch Đằng. Ông cho đóng cọc gỗ ở lòng sông, tính theo con nước. Ngày 8 tháng 3 năm Mậu Tý (tháng 4 năm 1288), quân Trần nhử đoàn thuyền Ô Mã Nhi vào bãi cọc lúc nước lớn, rồi đánh khi nước ròng. Thuyền Nguyên mắc cọc, vỡ, cháy. Ô Mã Nhi bị bắt. Cánh bộ của Thoát Hoan rút về qua Lạng Sơn trong cảnh bị chặn đánh liên tục.

Bảng so sánh ba lần kháng chiến

LầnThời gianChỉ huy phía Nguyên – MôngChỉ huy chính phía TrầnTrận then chốt
Thứ nhấtCuối 1257 – đầu 1258Ngột Lương Hợp ThaiVua Trần Thái Tông, Trần Thủ ĐộĐông Bộ Đầu
Thứ haiĐầu 1285 – giữa 1285Thoát Hoan, Toa Đô, Ô Mã NhiTiết chế Trần Hưng ĐạoHàm Tử, Chương Dương, Tây Kết, Vạn Kiếp
Thứ baCuối 1287 – tháng 4/1288Thoát Hoan, Ô Mã Nhi, Trương Văn HổTiết chế Trần Hưng ĐạoVân Đồn, Bạch Đằng

Cách cầm quân: lấy đoản binh chống trường trận

Nguồn tốt nhất để hiểu tư tưởng quân sự của Trần Hưng Đạo là lời ông dặn vua Trần Anh Tông khi sắp mất, được Toàn thư ghi năm 1300. Ông so sánh các cuộc chiến xưa và nói rằng giặc cậy trường trận, còn ta dùng đoản binh; lấy đoản binh chế trường trận là việc thường của binh pháp. Ông cũng nói nếu giặc đến như lửa như gió thì dễ chống, còn nếu chúng làm như tằm ăn dâu, đi chậm mà chắc, thì phải chọn tướng giỏi, xem xét quyền biến.

Câu được nhắc nhiều nhất là lời khuyên phải khoan thư sức dân để làm kế sâu rễ bền gốc. Đây không phải khẩu hiệu đạo đức suông. Trong ba lần kháng chiến, quân Trần thắng một phần lớn nhờ dân các lộ chịu bỏ nhà, giấu lương, đánh lẻ. Một triều đình vắt kiệt dân thì không có thế "vườn không nhà trống".

Từ các trận đánh, có thể rút ra ba nguyên tắc ông dùng lặp đi lặp lại:

  • Không giữ đất bằng mọi giá. Kinh thành bị bỏ hai lần, nhưng quân chủ lực và hai vua luôn được bảo toàn.
  • Đánh vào hậu cần. Vân Đồn 1287 cho thấy một trận đánh thuyền lương có giá trị hơn mười trận đánh quân chiến đấu.
  • Dùng địa hình và thời tiết. Mùa hè nóng ẩm, sông ngòi chằng chịt, con nước lên xuống đều được đưa vào tính toán.

Binh thư và Hịch tướng sĩ

Trần Hưng Đạo được ghi nhận soạn hai bộ sách quân sự: Binh thư yếu lược và Vạn Kiếp tông bí truyền thư. Toàn thư nói Vạn Kiếp tông bí truyền thư có lời tựa của Trần Khánh Dư. Bản gốc của cả hai đều đã thất truyền. Cuốn "Binh thư yếu lược" lưu hành ngày nay là bản biên tập đời sau, nhiều đoạn chép từ binh thư Trung Hoa, nên giới nghiên cứu không coi đó là văn bản nguyên vẹn của ông.

Hịch tướng sĩ thì đáng tin hơn về văn bản và là áng văn quân sự nổi tiếng nhất của thời Trần. Bài hịch không viết cho dân chúng mà cho các tướng hầu cận: trách họ ham chơi gà, đánh bạc, mê săn bắn, rồi cảnh báo rằng khi nước mất thì những thú vui đó cũng mất.

Sử liệu và truyền thuyết

Trần Hưng Đạo là một trong số rất ít danh tướng được thần hoá thành "Đức Thánh Trần", thờ ở hàng nghìn đền, phủ khắp cả nước. Vì thế, quanh ông có rất nhiều câu chuyện thiêng. Người đọc nên tách bạch:

  • Có trong chính sử: vai trò tiết chế, các trận 1285 và 1288, lời dặn vua Anh Tông năm 1300, chuyện ông không theo lời cha.
  • Thuộc tín ngưỡng dân gian: phép trừ tà, đuổi ma của Đức Thánh Trần, các ấn và bùa mang tên ông.
  • Còn bàn: năm sinh chính xác, quy mô quân Nguyên, vị trí cụ thể của từng bãi cọc năm 1288.

Về bãi cọc, khảo cổ học đã tìm thấy nhiều cọc gỗ ở Yên Giang, Đồng Vạn Muối và Đầm Thượng thuộc vùng Quảng Yên (Quảng Ninh). Kết quả niên đại cho thấy nhiều cọc thuộc thời Trần, củng cố cho mô tả của sử cũ về trận Bạch Đằng 1288.

Góc nhìn hôm nay: nên xem gì, đọc gì

Nếu muốn đứng ở nơi gắn với Trần Hưng Đạo, có ba điểm nên đi:

  • Đền Kiếp Bạc (Hải Dương cũ, nay thuộc Hải Phòng): nơi có phủ đệ Vạn Kiếp xưa, lễ hội chính vào tháng 8 âm lịch, quanh ngày giỗ 20/8.
  • Khu di tích Bạch Đằng ở Quảng Yên: có bãi cọc được bảo tồn và khu trưng bày về ba trận Bạch Đằng.
  • Đền Trần ở Nam Định cũ: thờ các vua Trần, gắn với quê gốc của dòng họ.

Về sách, nên bắt đầu từ bản dịch Đại Việt sử ký toàn thư (bản của Viện Khoa học xã hội, in nhiều lần), phần Kỷ nhà Trần. Muốn đọc so sánh thì tìm các chuyên khảo về kháng chiến chống Nguyên – Mông của Hà Văn Tấn và Phạm Thị Tâm, trong đó có đối chiếu với Nguyên sử. Đọc hai phía giúp thấy rõ chỗ nào sử Việt có thể nói quá và chỗ nào chính sử Trung Hoa cũng phải thừa nhận thất bại.

Bài học còn lại cho hôm nay khá giản dị: một người tài nhất không thắng được một cuộc chiến dài. Trần Hưng Đạo thắng vì biết dùng người như Trần Khánh Dư, Phạm Ngũ Lão, Trần Quang Khải, và vì hiểu rằng sức dân mới là thứ quyết định.

Câu hỏi thường gặp

Trần Hưng Đạo đánh thắng quân Nguyên – Mông mấy lần?

Nhà Trần thắng ba lần, vào các năm 1258, 1285 và 1288. Trần Hưng Đạo là tổng chỉ huy (Quốc công tiết chế) ở hai lần sau. Ở lần đầu năm 1258, ông chỉ được giao giữ biên giới phía bắc, người chỉ huy chung là vua Trần Thái Tông và Trần Thủ Độ.

Trần Hưng Đạo mất năm nào?

Ông mất ngày 20 tháng 8 năm Canh Tý, tức năm 1300, tại Vạn Kiếp. Ngày này về sau trở thành ngày giỗ lớn ở đền Kiếp Bạc và nhiều đền thờ Đức Thánh Trần. Năm sinh của ông thì sử không ghi rõ, các con số thường gặp đều là ước đoán.

Trận Bạch Đằng 1288 diễn ra như thế nào?

Quân Trần đóng cọc gỗ dưới lòng sông Bạch Đằng, nhử thủy quân Nguyên của Ô Mã Nhi vào lúc nước lớn rồi đánh khi nước rút. Thuyền địch mắc cọc, bị phá và đốt, Ô Mã Nhi bị bắt sống. Trận này kết thúc lần xâm lược thứ ba.

Binh thư yếu lược có phải do Trần Hưng Đạo viết?

Sử cũ ghi ông soạn Binh thư yếu lược, nhưng bản gốc đã mất. Bản lưu hành hiện nay là bản biên tập đời sau, có nhiều đoạn chép từ binh thư Trung Hoa. Vì vậy nên coi đó là tài liệu tham khảo, không phải lời nguyên văn của ông.

Vì sao Trần Hưng Đạo được gọi là Đức Thánh Trần?

Sau khi mất, ông được nhân dân thờ cúng và dần được thần hoá thành vị thánh có quyền năng trừ tà, bảo hộ. Tín ngưỡng thờ Đức Thánh Trần lan rộng khắp miền Bắc rồi vào Nam. Đây là phần tín ngưỡng, khác với phần sử liệu về con người lịch sử Trần Quốc Tuấn.

Cần tư vấn cụ thể cho trường hợp của bạn?

Chúng tôi sẽ liên hệ trong vòng 24 giờ.

Đăng ký tư vấn ngay

Bài viết liên quan

Bạn cần hỗ trợ thêm?

Để lại thông tin, chúng tôi sẽ liên hệ trong 24 giờ.

hoặc
Gọi ngay 0888 831 183