Chiến TướngWiki
Tìm
Danh tướng Việt Nam

Nguyễn Trãi, mưu sĩ của Lam Sơn: tâm công, thư dụ hàng và án Lệ Chi Viên

Nguyễn Trãi là mưu sĩ của Lê Lợi: viết thư dụ hàng tướng Minh, soạn Bình Ngô đại cáo năm 1428, rồi bị tru di ba họ trong án Lệ Chi Viên năm 1442, được giải oan năm 1464.

Nguyễn Trãi, mưu sĩ của Lam Sơn: tâm công, thư dụ hàng và án Lệ Chi Viên

Nguyễn Trãi (1380–1442) là mưu sĩ hàng đầu của khởi nghĩa Lam Sơn, người soạn thư từ, lời dụ hàng gửi tướng Minh và viết Bình Ngô đại cáo năm 1428. Đóng góp lớn nhất của ông không nằm ở chiến trường mà ở việc biến cuộc chiến thành cuộc đấu về lòng người: thuyết phục thành giặc tự mở cửa, giữ cho nghĩa quân có danh nghĩa chính đáng, và kết thúc chiến tranh bằng hoà ước thay vì tàn sát. Cuộc đời ông cũng là một bi kịch: mười lăm năm sau chiến thắng, cả ba họ bị xử tử trong vụ án Lệ Chi Viên.

Xuất thân: con Nguyễn Phi Khanh, cháu ngoại Trần Nguyên Đán

Nguyễn Trãi hiệu Ức Trai, gốc ở Chi Ngại thuộc vùng Chí Linh, sau theo cha về sống ở làng Nhị Khê, nay thuộc Hà Nội. Cha ông là Nguyễn Phi Khanh, một nho sĩ đỗ đạt. Mẹ ông là Trần Thị Thái, con gái quan Tư đồ Trần Nguyên Đán, một đại thần cuối triều Trần. Như vậy ông lớn lên giữa hai dòng: nho học bình dân bên nội và quý tộc nhà Trần bên ngoại.

Năm 1400, nhà Hồ mở khoa thi đầu tiên, Nguyễn Trãi đỗ Thái học sinh và ra làm quan. Năm 1407, nhà Hồ thua quân Minh, Nguyễn Phi Khanh bị bắt đưa sang Trung Quốc. Truyền thuyết kể Nguyễn Trãi theo cha đến ải Nam Quan, được cha khuyên quay về lo trả thù nhà, rửa nhục nước. Câu chuyện này phổ biến nhưng không có trong chính sử, nên chỉ nên coi là giai thoại.

Những năm sau đó của ông không được ghi rõ. Nhiều tài liệu cho rằng ông bị quân Minh giữ ở Đông Quan một thời gian. Điều chắc chắn là cuối cùng ông tìm đến Lê Lợi.

Gặp Lê Lợi và Bình Ngô sách

Sử nhà Lê chép Nguyễn Trãi đến gặp Lê Lợi và dâng Bình Ngô sách, một bản kế sách về cách đánh quân Minh. Thời điểm và địa điểm chính xác còn được bàn: có nguồn đặt việc này trước khi khởi nghĩa, có nguồn đặt vào khoảng đầu thập niên 1420 ở Lỗi Giang (Thanh Hoá). Bản Bình Ngô sách đã thất truyền, nên nội dung cụ thể chỉ có thể suy ra từ cách nghĩa quân hành động về sau.

Ông không phải tướng cầm quân. Ông là người ở cạnh chủ tướng, làm việc mà ngày nay ta gọi là tham mưu chiến lược kiêm phụ trách văn thư, ngoại giao. Trong một cuộc khởi nghĩa mà phần lớn tướng lĩnh xuất thân võ biền miền núi, một người như vậy có giá trị đặc biệt.

"Đánh vào lòng người": Quân trung từ mệnh tập

Bằng chứng rõ nhất về vai trò của Nguyễn Trãi là Quân trung từ mệnh tập, tập văn bản ông viết trong thời gian chiến tranh, nhân danh Lê Lợi gửi các tướng Minh như Vương Thông, Sơn Thọ, Mã Kỳ, Phương Chính, và gửi các thành đang bị vây. Tập này được người đời sau sưu tầm, các bản lưu hành có vài chục văn kiện.

Đọc các bức thư này thấy rõ mấy lối thuyết phục lặp lại:

  • Nói lý về thời thế: nhà Minh đang có khó khăn ở phương Bắc, viện binh khó đến, cố giữ thành chỉ hại thêm quân lính.
  • Nói về danh nghĩa: nhà Minh sang với cớ "phù Trần" nhưng lại chiếm đất, đặt quan cai trị, là trái với lời mình nói.
  • Mở đường lui: hứa cho quân Minh ra hàng được an toàn, được về nước.
  • Đe doạ có chừng mực: nhắc đến những thành đã thất thủ và số phận của những ai chống cự đến cùng.

Người đời sau tóm lối đánh ấy trong cụm từ "mưu phạt tâm công", tức đánh bằng mưu, đánh vào lòng. Hiệu quả thực tế của nó được ghi nhận qua nhiều thành Minh đã ra hàng không cần đánh, đặc biệt sau khi viện binh của Liễu Thăng bị diệt ở Chi Lăng – Xương Giang năm 1427. Thư từ của Nguyễn Trãi cũng góp phần đưa Vương Thông đến bàn hội thề Đông Quan, kết thúc chiến tranh.

Bình Ngô đại cáo: văn bản kết thúc chiến tranh

Đầu năm 1428, Nguyễn Trãi thay Lê Lợi soạn Bình Ngô đại cáo, tuyên bố với cả nước về chiến thắng. Đây là văn bản có giá trị sử liệu và văn chương lớn nhất của thời kỳ này.

Câu mở đầu, theo bản dịch quen thuộc của Bùi Kỷ, nêu rằng việc nhân nghĩa cốt ở yên dân. Bài cáo khẳng định nước Đại Việt có văn hiến, có núi sông bờ cõi, phong tục riêng, có các triều Triệu, Đinh, Lý, Trần ngang hàng với các triều đại phương Bắc. Tiếp đó là bản cáo trạng tội ác quân Minh, phần kể lại mười năm kháng chiến, và cuối cùng là đoạn nói về việc tha cho quân thua trận.

Đoạn cuối này đáng chú ý nhất về tư tưởng quân sự. Bài cáo kể việc cấp cho các tướng Minh bị bắt như Phương Chính, Mã Kỳ hàng trăm chiếc thuyền, cấp cho Vương Thông, Mã Anh hàng nghìn con ngựa để về nước. Hai câu được nhắc nhiều, theo bản dịch phổ biến, là "Đem đại nghĩa để thắng hung tàn, Lấy chí nhân để thay cường bạo". Đây vừa là lời tuyên truyền, vừa là một tính toán: để kẻ thù rút trong danh dự thì khả năng họ quay lại trả thù sẽ thấp hơn.

Sau chiến thắng: nghi kỵ, Côn Sơn và vụ án Lệ Chi Viên

Thắng xong, triều Lê bước vào giai đoạn thanh lọc công thần. Trần Nguyên Hãn và Phạm Văn Xảo, hai tướng lớn, đều chết trong những năm đầu. Nguyễn Trãi cũng từng bị bắt giam một thời gian ngắn rồi được tha, nhưng không còn được tin dùng như trước.

Khoảng cuối thập niên 1430, ông lui về Côn Sơn, vùng núi gắn với ông ngoại Trần Nguyên Đán, nơi ông viết nhiều bài thơ về cảnh sống ẩn dật. Vua Lê Thái Tông sau đó lại mời ông ra giúp việc.

Năm 1442, vua Lê Thái Tông đi tuần miền đông, ghé Côn Sơn thăm Nguyễn Trãi. Nguyễn Thị Lộ, người vợ lẽ của ông, theo hầu vua. Trên đường về, đến vườn vải Lệ Chi (vùng Gia Bình, Bắc Ninh), nhà vua mất đột ngột. Triều đình quy tội cho Nguyễn Thị Lộ giết vua, và Nguyễn Trãi bị khép tội chung, ba họ bị xử tử.

Đến nay, nguyên nhân cái chết của vua Lê Thái Tông vẫn là bí ẩn. Các nhà sử học phần lớn cho rằng đây là án oan, xuất phát từ tranh chấp quyền lực trong triều. Năm 1464, vua Lê Thánh Tông chính thức giải oan cho Nguyễn Trãi, tìm con cháu còn sót lại để bổ dụng. Câu "Ức Trai tâm thượng quang khuê tảo", nghĩa là lòng Ức Trai sáng như sao Khuê, thường được cho là lời vua Lê Thánh Tông dành cho ông.

Mốc đời Nguyễn Trãi

NămSự kiện
1380Sinh ra, con Nguyễn Phi Khanh và Trần Thị Thái
1400Đỗ Thái học sinh khoa thi đầu tiên của nhà Hồ
1407Nhà Hồ mất, Nguyễn Phi Khanh bị bắt sang Trung Quốc
Khoảng 1416–1423Gặp Lê Lợi, dâng Bình Ngô sách (thời điểm còn bàn)
1424–1427Soạn thư từ, lời dụ hàng gửi tướng Minh
1428Soạn Bình Ngô đại cáo
Cuối thập niên 1430Lui về Côn Sơn
1442Vụ án Lệ Chi Viên, bị tru di ba họ
1464Vua Lê Thánh Tông giải oan

Tác phẩm và những gì còn tranh cãi

Ngoài Quân trung từ mệnh tập và Bình Ngô đại cáo, Nguyễn Trãi để lại Ức Trai thi tập (thơ chữ Hán), Quốc âm thi tập (thơ chữ Nôm) và Dư địa chí, cuốn sách địa lý sớm nhất còn lại của Việt Nam. Quốc âm thi tập là tập thơ Nôm cổ nhất còn giữ được, có giá trị lớn cho việc nghiên cứu tiếng Việt thế kỷ 15.

Vì nhiều sách bị thiêu huỷ sau vụ án năm 1442, phần lớn tác phẩm của ông được sưu tầm lại từ thế kỷ 15 trở về sau. Do đó có những văn bản bị nghi là không phải của ông. Ví dụ rõ nhất là Gia huấn ca: bài này lâu nay được gán cho Nguyễn Trãi, nhưng nhiều nhà nghiên cứu cho rằng ngôn ngữ của nó thuộc thời muộn hơn nhiều.

Góc nhìn hôm nay: Côn Sơn, Nhị Khê và nên đọc gì

Khu di tích Côn Sơn – Kiếp Bạc (Chí Linh, nay thuộc Hải Phòng) có đền thờ Nguyễn Trãi, chùa Côn Sơn và con đường đá lên núi, gắn với những bài thơ ông viết thời ở ẩn. Lễ hội mùa thu ở đây thường kết hợp tưởng niệm Nguyễn Trãi và Trần Hưng Đạo. Ở làng Nhị Khê (Hà Nội) có đền thờ Nguyễn Phi Khanh và Nguyễn Trãi.

Năm 1980, UNESCO đưa 600 năm ngày sinh Nguyễn Trãi vào danh sách các ngày kỷ niệm của tổ chức này, ghi nhận ông là nhà văn hoá lớn.

Muốn tìm hiểu thêm, nên đọc bộ Nguyễn Trãi toàn tập có chú giải, bắt đầu từ Bình Ngô đại cáo rồi đến một vài bức thư trong Quân trung từ mệnh tập. Đọc thư gửi Vương Thông, người đọc sẽ thấy một cách làm chiến tranh rất khác hình dung thông thường: nhiều chữ hơn gươm, và kiên nhẫn hơn hăng hái. Bài học còn nguyên: thắng một trận cần sức mạnh, nhưng kết thúc một cuộc chiến cần lý lẽ và lối thoát cho đối phương.

Câu hỏi thường gặp

Nguyễn Trãi có vai trò gì trong khởi nghĩa Lam Sơn?

Ông là mưu sĩ, người hoạch định chiến lược và phụ trách văn thư, ngoại giao của Lê Lợi. Ông viết các thư dụ hàng gửi tướng Minh và các thành bị vây, góp phần khiến nhiều thành ra hàng không cần đánh. Năm 1428, ông soạn Bình Ngô đại cáo.

Vụ án Lệ Chi Viên là gì?

Năm 1442, vua Lê Thái Tông mất đột ngột ở vườn vải Lệ Chi sau khi ghé thăm Nguyễn Trãi ở Côn Sơn. Triều đình buộc tội Nguyễn Thị Lộ giết vua và xử tử Nguyễn Trãi cùng ba họ. Phần lớn sử gia coi đây là án oan, và năm 1464 vua Lê Thánh Tông đã giải oan cho ông.

Bình Ngô đại cáo được viết năm nào?

Bình Ngô đại cáo được Nguyễn Trãi soạn đầu năm 1428, thay lời Lê Lợi tuyên cáo việc đánh thắng quân Minh. Bài cáo khẳng định Đại Việt có văn hiến, bờ cõi riêng và kể lại quá trình mười năm kháng chiến.

Nguyễn Trãi quê ở đâu?

Gốc của ông ở Chi Ngại thuộc vùng Chí Linh, sau theo cha về sống ở làng Nhị Khê, nay thuộc Hà Nội. Ông có gắn bó lâu dài với Côn Sơn, nơi ông ngoại Trần Nguyên Đán từng sống và nơi ông về ở ẩn cuối đời.

Gia huấn ca có phải của Nguyễn Trãi không?

Chưa chắc. Bài này lâu nay được gán cho Nguyễn Trãi, nhưng nhiều nhà nghiên cứu cho rằng ngôn ngữ trong đó thuộc thời muộn hơn thế kỷ 15. Các tác phẩm được xem là chắc chắn của ông gồm Bình Ngô đại cáo, Quân trung từ mệnh tập, Ức Trai thi tập, Quốc âm thi tập và Dư địa chí.

Cần tư vấn cụ thể cho trường hợp của bạn?

Chúng tôi sẽ liên hệ trong vòng 24 giờ.

Đăng ký tư vấn ngay

Bài viết liên quan

Bạn cần hỗ trợ thêm?

Để lại thông tin, chúng tôi sẽ liên hệ trong 24 giờ.

hoặc
Gọi ngay 0888 831 183