Hoàng thành Thăng Long là khu trung tâm quyền lực của kinh đô Đại Việt từ năm 1010, khi Lý Thái Tổ dời đô từ Hoa Lư ra, cho đến thời Nguyễn. Kinh thành xưa có nhiều vòng tường lồng nhau, trong cùng là cung điện của vua. Phần còn lại ngày nay nằm ở khu Ba Đình, Hà Nội, gồm khu khảo cổ 18 Hoàng Diệu và các công trình như Đoan Môn, nền điện Kính Thiên, Hậu Lâu, Cửa Bắc. UNESCO công nhận khu trung tâm Hoàng thành là di sản thế giới năm 2010.
Từ Đại La đến Thăng Long
Năm 1010, Lý Thái Tổ ban Chiếu dời đô, chọn thành Đại La làm kinh đô mới. Đại Việt sử ký toàn thư chép rằng khi thuyền vua tạm đỗ dưới thành, có rồng vàng hiện lên, nên vua đổi tên thành Thăng Long, nghĩa là rồng bay lên. Chuyện rồng hiện là chi tiết mang màu sắc điềm lành; còn việc chọn đất thì có lý do rất thực tế: vùng này nằm giữa đồng bằng, đường sông đi khắp nơi, đất cao ráo hơn xung quanh.
Thăng Long không mọc lên từ đất trống. Nó được xây trên nền thành Đại La của thời thuộc Đường, và khảo cổ học ở 18 Hoàng Diệu đã tìm thấy các lớp kiến trúc thời Đại La nằm bên dưới lớp thời Lý. Một kinh đô Việt được dựng chồng lên trung tâm cai trị cũ của phương Bắc, đó là một tuyên bố rõ ràng.
Cấu trúc ba vòng thành
Kinh đô Thăng Long qua các triều thường được mô tả theo ba vòng:
| Vòng | Tên gọi | Chức năng |
|---|---|---|
| Ngoài cùng | La Thành, còn gọi Kinh thành | Bao cả khu dân cư, phố phường, chợ; dựa vào sông Hồng, sông Tô Lịch và đê đất |
| Giữa | Hoàng thành | Khu triều đình, nơi đặt các cơ quan và cung điện |
| Trong cùng | Cấm thành (Tử Cấm thành) | Nơi ở và làm việc riêng của vua, hậu cung |
Toàn thư chép năm 1010, thành Thăng Long thời Lý mở bốn cửa: Tường Phù ở phía đông, Quảng Phúc ở phía tây, Đại Hưng ở phía nam, Diệu Đức ở phía bắc. Trong thành dựng các điện Càn Nguyên, Tập Hiền, Giảng Võ cùng nhiều cung điện khác.
Tường La Thành thời Lý – Trần chủ yếu là tường đất đắp, kết hợp với đê sông. Nhiều đoạn đường phố Hà Nội ngày nay, như đường La Thành, đường Hoàng Hoa Thám, vẫn chạy theo dấu vết của vòng thành và đê cũ.
Thăng Long trong chiến tranh: thành để bỏ, không phải để giữ
Đây là điểm mà người mê quân sự hay bất ngờ. Kinh đô Thăng Long nhiều lần bị kẻ thù chiếm, nhưng phần lớn là vì người Việt chủ động bỏ thành.
- 1258: quân Mông Cổ của Ngột Lương Hợp Thai tiến vào, vua Trần Thái Tông rút khỏi kinh thành, rồi phản công ở Đông Bộ Đầu.
- 1285: trước đại quân Nguyên do Thoát Hoan chỉ huy, triều Trần rút khỏi Thăng Long, để lại kinh thành trống. Mấy tháng sau phản công, thắng ở Hàm Tử, Chương Dương, rồi giải phóng kinh đô.
- 1288: lại bỏ thành lần nữa, kéo quân Nguyên vào thế thiếu lương, rồi đánh tan thuỷ quân Nguyên trên sông Bạch Đằng.
- 1407–1427: nhà Minh chiếm đóng, gọi là Đông Quan. Nghĩa quân Lam Sơn vây thành Đông Quan, cuối cùng Vương Thông xin hàng năm 1427.
- 1789: Quang Trung đánh tan quân Thanh ở Ngọc Hồi – Đống Đa, Tôn Sĩ Nghị bỏ Thăng Long chạy về nước.
Bài học rút ra: với nhà Trần, kinh thành là biểu tượng nhưng không phải nơi đặt cược số phận cả nước. Giữ quân, giữ dân, giữ lương quan trọng hơn giữ tường. Còn với kẻ chiếm đóng như quân Minh, toà thành lại trở thành cái bẫy: bị vây trong Đông Quan, họ mất thế chủ động.
Các triều đại để lại gì
| Thời kỳ | Dấu ấn còn thấy được |
|---|---|
| Đại La (thế kỷ 7–9) | Dấu tích kiến trúc, gạch có chữ trong hố khai quật 18 Hoàng Diệu |
| Lý – Trần (1010–1400) | Hệ thống chân cột, giếng nước, ngói và đầu ngói trang trí rồng, phượng, lá đề |
| Lê sơ (1428–1527) | Nền điện Kính Thiên, xây trên núi Nùng; bậc thềm có rồng đá |
| Lê trung hưng | Các lớp kiến trúc và đồ gốm sứ trong khu khảo cổ |
| Nguyễn (thế kỷ 19) | Đoan Môn được sửa sang, Hậu Lâu, Cửa Bắc (1805), Cột cờ (1812) |
Năm 1802, nhà Nguyễn đóng đô ở Huế. Thăng Long hạ xuống thành trấn thành Bắc Thành, sau năm 1831 đổi gọi là Hà Nội. Nhà Nguyễn xây lại thành theo kiểu Vauban, nhỏ hơn thành cũ, và cho dỡ nhiều cung điện cũ. Đến cuối thế kỷ 19, người Pháp phá phần lớn thành Hà Nội để lấy đất làm đường và công sở. Những gì còn lại hôm nay là các mảnh rời của nhiều thời kỳ chồng lên nhau.
Khu khảo cổ 18 Hoàng Diệu
Năm 2002, khi chuẩn bị xây nhà Quốc hội mới, các nhà khảo cổ khai quật khu đất số 18 Hoàng Diệu. Quy mô khai quật thuộc loại lớn nhất ở Việt Nam lúc đó. Kết quả làm thay đổi hiểu biết về Thăng Long:
- Các lớp văn hoá chồng lên nhau liên tục từ thời Đại La đến thời Nguyễn, trên cùng một khu đất.
- Hàng loạt dấu tích nền móng, chân tảng kê cột thời Lý, cho thấy những công trình gỗ quy mô lớn.
- Giếng nước, cống thoát nước, đường đi lát gạch.
- Rất nhiều đồ gốm sứ, trong đó có gốm men cao cấp dùng trong cung đình, và đồ gốm nhập từ Trung Hoa, Nhật Bản, Tây Á, cho thấy giao thương rộng.
Phát hiện này là cơ sở chính để UNESCO ghi danh "Khu trung tâm Hoàng thành Thăng Long – Hà Nội" năm 2010, đúng dịp đại lễ nghìn năm Thăng Long. Lý do UNESCO nêu là tính liên tục hiếm thấy của một trung tâm quyền lực kéo dài hơn mười ba thế kỷ, và sự giao thoa văn hoá phản ánh trong hiện vật.
Tham quan Hoàng thành Thăng Long: nên xem gì
Khu di tích nằm ở khu Ba Đình, cổng chính vào từ phía phố Hoàng Diệu. Có thể đi hết trong nửa ngày nếu không quá kỹ. Gợi ý thứ tự:
- Đoan Môn: cửa chính phía nam vào khu Cấm thành, có năm lối đi vòm. Trên lối vào giữa có đoạn lộ ra lớp đường lát gạch cũ, nhìn qua kính.
- Nền điện Kính Thiên: nơi diễn ra các lễ lớn thời Lê. Chú ý bậc thềm có đôi rồng đá chạm thời Lê sơ, một trong những tác phẩm điêu khắc đá đẹp nhất của thời kỳ này.
- Hậu Lâu: lầu phía sau, thời Nguyễn gọi là Tĩnh Bắc Lâu, từng là nơi ở của các cung nữ.
- Khu khảo cổ 18 Hoàng Diệu: nằm đối diện bên kia phố Hoàng Diệu. Đây là phần nên dành nhiều thời gian nhất: đi trên lối gỗ, nhìn xuống các hố khai quật, thấy rõ chân cột, giếng, cống của nhiều thời kỳ.
- Cửa Bắc (phố Phan Đình Phùng): cổng còn lại của thành Hà Nội thời Nguyễn. Trên mặt thành còn dấu đạn pháo bắn từ tàu Pháp năm 1882, khi Pháp đánh thành Hà Nội. Trên lầu cửa có ban thờ Nguyễn Tri Phương và Hoàng Diệu, hai vị quan đã chết theo thành khi Pháp đánh Hà Nội năm 1873 và 1882.
- Cột cờ Hà Nội (phố Điện Biên Phủ): xây năm 1812 thời Gia Long, là vọng lâu của thành Hà Nội, hiếm hoi còn nguyên vẹn qua các biến cố.
Hiện vật quý từ khu khảo cổ được trưng bày trong nhà trưng bày của khu di tích và tại Bảo tàng Lịch sử quốc gia. Sách nên đọc: Đại Việt sử ký toàn thư (phần thời Lý), cùng các công bố của Viện Khảo cổ học về khu di tích Hoàng thành. Khi đi, nên xem bản đồ phục dựng các vòng thành để đối chiếu với đường phố hôm nay.
Góc nhìn hôm nay
Thăng Long là trường hợp hiếm: một toà thành mà giá trị phòng thủ thấp, nhưng giá trị biểu tượng thì cao nhất nước. Mỗi lần bị chiếm, nó lại được giành lại. Đó là vì sức mạnh không nằm ở tường mà ở cả hệ thống quân dân phía sau. Đi trong khu khảo cổ, nhìn các lớp đất thời Lý nằm trên lớp thời Đại La, rồi lớp thời Lê nằm trên lớp thời Lý, sẽ thấy rõ một điều: kinh đô có thể đổi chủ, nhưng người ta vẫn quay về đúng chỗ ấy để xây lại.
Câu hỏi thường gặp
Hoàng thành Thăng Long được xây năm nào?
Hoàng thành được xây từ năm 1010, khi Lý Thái Tổ dời đô từ Hoa Lư về thành Đại La và đổi tên là Thăng Long. Các triều sau như Trần, Lê, Nguyễn tiếp tục xây dựng và sửa đổi trên cùng khu vực.
Hoàng thành Thăng Long được UNESCO công nhận năm nào?
Năm 2010, UNESCO công nhận Khu trung tâm Hoàng thành Thăng Long – Hà Nội là di sản văn hoá thế giới. Lý do chính là tính liên tục của một trung tâm quyền lực qua hơn mười ba thế kỷ và các lớp di tích khảo cổ chồng lên nhau.
Hoàng thành Thăng Long có mấy cửa?
Theo Đại Việt sử ký toàn thư, thành Thăng Long thời Lý có bốn cửa: Tường Phù (đông), Quảng Phúc (tây), Đại Hưng (nam), Diệu Đức (bắc). Ngày nay, cổng lớn còn thấy là Đoan Môn ở phía nam khu Cấm thành và Cửa Bắc của thành Hà Nội thời Nguyễn.
Hoàng thành Thăng Long khác Cấm thành thế nào?
Hoàng thành là vòng giữa, bao khu triều đình và các cơ quan. Cấm thành nằm bên trong Hoàng thành, là nơi ở và làm việc riêng của vua cùng hậu cung, người ngoài không được vào.
Vì sao nhà Trần bỏ kinh thành Thăng Long khi quân Nguyên đến?
Nhà Trần chọn cách bảo toàn lực lượng, rút quân và dân khỏi kinh thành để quân Nguyên vào một thành trống, thiếu lương. Khi đối phương mỏi mệt, quân Trần phản công. Cách làm này giúp thắng cả ba lần kháng chiến 1258, 1285 và 1288.