Chiến TướngWiki
Tìm
Tướng lĩnh Tam Quốc

Gia Cát Lượng thật và hư: chuyện nào có trong sử, chuyện nào tiểu thuyết

Gia Cát Lượng thật là tể tướng giỏi trị nước, tổ chức quân. Mượn gió đông, thuyền cỏ mượn tên, Không thành kế là hư cấu; tam cố thảo lư, bắc phạt là sử thật.

Gia Cát Lượng thật và hư: chuyện nào có trong sử, chuyện nào tiểu thuyết

Gia Cát Lượng (181 – 234) trong sử là một tể tướng giỏi trị nước, giỏi tổ chức quân đội, nhưng không phải "thần cơ diệu toán" hô mưa gọi gió như trong Tam Quốc diễn nghĩa. Những tích nổi tiếng nhất như thuyền cỏ mượn tên, lập đàn cầu gió đông, Không thành kế đều là hư cấu hoặc chuyển từ người khác sang. Ngược lại, tam cố thảo lư, Bát trận đồ, trâu gỗ ngựa máy và năm lần bắc phạt là chuyện có sử liệu.

Đời Gia Cát Lượng qua các mốc chính

  1. 181: sinh ở huyện Dương Đô, quận Lang Gia (nay thuộc Sơn Đông). Mồ côi sớm, theo chú là Gia Cát Huyền xuống phương nam.
  2. Khoảng 197 – 207: ở ẩn, cày ruộng ở Long Trung gần Tương Dương, hay tự ví mình với Quản Trọng, Nhạc Nghị.
  3. 207: Lưu Bị ba lần đến thăm; Gia Cát Lượng trình bày kế sách thường gọi là "Long Trung đối".
  4. 208: sang Sài Tang thuyết Tôn Quyền liên minh chống Tào, dẫn đến trận Xích Bích.
  5. 214: cùng Trương Phi, Triệu Vân đưa quân vào Ích Châu sau khi Bàng Thống tử trận.
  6. 221: Lưu Bị xưng đế, Gia Cát Lượng làm Thừa tướng.
  7. 223: Lưu Bị mất ở Bạch Đế thành, gửi con là Lưu Thiện cho Gia Cát Lượng.
  8. 225: nam chinh, bình định các quận phía nam.
  9. 228 – 234: năm lần đem quân bắc phạt Ngụy.
  10. 234: mất trong quân ở Ngũ Trượng Nguyên, 54 tuổi. Thụy là Trung Vũ hầu.

Tam cố thảo lư: có thật, nhưng có một ghi chép khác

Bằng chứng mạnh nhất cho chuyện ba lần đến lều cỏ là chính lời Gia Cát Lượng trong Xuất sư biểu dâng năm 227: "Tiên đế không cho thần là hèn mọn, tự hạ mình, ba lần đến thăm thần trong lều cỏ." Một văn bản do người trong cuộc viết, gửi lên vua là con của người được nhắc đến, khó mà bịa.

Tuy vậy, sách Ngụy lược của Ngư Hoạn chép ngược lại: Gia Cát Lượng tự đến gặp Lưu Bị ở Phàn Thành để hiến kế. Bùi Tùng Chi khi chú thích đã dẫn cả hai và nghiêng về Xuất sư biểu. Phần lớn nhà nghiên cứu hôm nay cũng tin theo Bùi Tùng Chi, nhưng đây là điểm có tranh luận, nên nhắc cho đủ.

Nội dung Long Trung đối thì được Tam Quốc chí chép tương đối kỹ: Tào Tháo đã mạnh không thể tranh, Tôn Quyền có Giang Đông ba đời không thể đánh mà chỉ nên kết làm viện; nên lấy Kinh Châu và Ích Châu, giữ hiểm, vỗ yên các dân tộc phía tây và nam, chờ thiên hạ có biến thì chia hai đường tiến ra. Đáng chú ý, chính kế hoạch hai gọng kìm này sụp đổ khi Kinh Châu mất năm 219.

Những chuyện có thật nhưng bị phóng đại

Bát trận đồ

Tam Quốc chí có câu Gia Cát Lượng "suy diễn binh pháp, làm Bát trận đồ, đều nắm được chỗ cốt yếu". Đó là một sơ đồ bố trí quân, giúp đội hình đông người giữ được trật tự khi tiến, lùi, chuyển hướng. Tiểu thuyết biến nó thành trận đá ở bến Ngư Phúc giam được Lục Tốn, có cửa sinh cửa tử, mây mù nổi lên. Phần đó là văn chương.

Trâu gỗ, ngựa máy và nỏ liên phát

Sử ghi Gia Cát Lượng "giỏi nghĩ ra đồ khéo", cải tiến nỏ bắn liên tiếp, và chế ra mộc ngưu (trâu gỗ), lưu mã (ngựa máy) để chở lương qua đường núi Tần Lĩnh. Hình dạng thật của chúng không còn, các nhà nghiên cứu đoán là loại xe cút kít một bánh hoặc xe đẩy bốn chân. Chuyện ngựa gỗ tự đi, vặn lưỡi là đứng im như trong tiểu thuyết thì không có trong sử.

Bảy lần bắt Mạnh Hoạch

Chính văn Tam Quốc chí chỉ nói năm 225 Gia Cát Lượng nam chinh và bình định bốn quận, không nhắc tên Mạnh Hoạch. Chuyện bắt bảy lần thả bảy lần đến từ Hán Tấn xuân thu của Tập Tạc Xỉ, được Bùi Tùng Chi chép vào chú. Cuộc nam chinh có thật; con số bảy và từng màn bắt thả là chi tiết còn nhiều người nghi ngờ.

Những chuyện hư cấu hoặc mượn của người khác

Tích trong tiểu thuyếtSử liệu nói gì
Đốt Bác Vọng, trận đầu ra quânTrận phục kích ở Bác Vọng là do chính Lưu Bị chỉ huy, trước khi gặp Gia Cát Lượng.
Thuyền cỏ mượn tênNgụy lược kể Tôn Quyền năm 213 ở Nhu Tu, thuyền trúng tên nghiêng một bên, cho quay thuyền hứng tên bên kia cho cân. Không liên quan Gia Cát Lượng.
Lập đàn cầu gió đôngSử chỉ ghi lúc Hoàng Cái phóng hoả "gió đông nam thổi mạnh". Không ai cầu gió.
Ba lần chọc tức Chu DuKhông có. Chu Du mất năm 210 vì bệnh khi đang chuẩn bị đánh Ích Châu.
Mắng chết Vương Lãng trước trậnVương Lãng mất năm 228 ở Lạc Dương, không ra trận.
Không thành kế, gảy đàn trên thànhChuyện của Quách Xung được Bùi Tùng Chi chép rồi tự bác: năm 228 Tư Mã Ý đang trấn ở Uyển, không có mặt ở mặt trận đó.
Thắp bảy ngọn đèn cầu thọKhông có trong sử.

Tiểu thuyết không bịa từ con số không. Nó gom chiến công của nhiều người, đặt lên một người, để tạo ra một hình mẫu mưu sĩ lý tưởng. Điều này làm Gia Cát Lượng sáng hơn, nhưng làm những người như Chu Du, Lỗ Túc, Pháp Chính, Bàng Thống mờ đi.

Năm lần bắc phạt trong sử

Tiểu thuyết gọi là "sáu lần ra Kỳ Sơn". Sử ghi năm lần chính, và chỉ hai lần thật sự đi qua Kỳ Sơn.

NămHướng tiếnKết quả
Xuân 228Kỳ SơnBa quận Nam An, Thiên Thuỷ, An Định hưởng ứng; Mã Tốc thua ở Nhai Đình, phải rút. Gia Cát Lượng chém Mã Tốc, tự xin giáng ba bậc.
Đông 228Trần ThươngVây hơn hai mươi ngày, Hác Chiêu giữ vững, hết lương rút về; trên đường chém tướng Ngụy Vương Song.
229Vũ Đô, Âm BìnhTrần Thức lấy được hai quận. Lần duy nhất giành đất lâu dài.
231Kỳ SơnĐối đầu Tư Mã Ý; lương không tiếp kịp vì Lý Nghiêm, rút quân; Trương Cáp đuổi theo, trúng tên chết.
234Ngũ Trượng NguyênĐóng đồn điền lâu dài, Tư Mã Ý cố thủ không đánh; Gia Cát Lượng bệnh mất trong quân.

Câu "Gia Cát chết rồi còn đuổi được Trọng Đạt sống" có nguồn gốc khá sớm: Hán Tấn xuân thu chép khi quân Thục rút, Khương Duy cho quay cờ đánh trống như sắp phản công, Tư Mã Ý lui lại không dám đuổi. Dân gian đặt ra câu ấy, Tư Mã Ý nghe được thì đáp: "Ta đoán được việc người sống, không đoán được việc người chết."

Trần Thọ đánh giá ra sao

Trần Thọ ca ngợi tài trị nước của Gia Cát Lượng, xếp ông vào hàng Quản Trọng, Tiêu Hà. Ông kể Gia Cát Lượng thưởng phạt công bằng, người bị phạt nặng mà không oán. Nhưng ông cũng viết thẳng: dụng binh nhiều năm mà không thành công, có lẽ tài "ứng biến tướng lược" không phải sở trường. Ông còn nhận xét trị quân là điểm mạnh, mưu kỳ là điểm yếu.

Đời sau nhiều người cho rằng Trần Thọ hẹp ý vì cha ông từng bị Gia Cát Lượng phạt. Thuyết này có từ sách Tấn thư, nhưng nhiều học giả bác lại, vì cả quyển 35 Trần Thọ viết về Gia Cát Lượng đầy kính trọng, lại chính ông đã sưu tập văn tập của Gia Cát Lượng dâng lên triều Tấn.

Đánh giá cân bằng hôm nay: Gia Cát Lượng là nhà tổ chức bậc thầy. Ông lấy một nước nhỏ nhất, vừa mất Kinh Châu và thua Di Lăng, mà giữ được ổn định, quân kỷ nghiêm, liên tục đưa quân ra đánh nước lớn gấp nhiều lần. Ông thận trọng tới mức bị chê là thiếu táo bạo: kế đi đường tắt Tý Ngọ của Nguỵ Diên ông không dùng.

Góc nhìn hôm nay: đọc gì, đi đâu

Đọc trước hết là Xuất sư biểu, có trong tuyển tập Cổ văn quan chỉ và nhiều bản dịch tiếng Việt. Lưu ý Hậu xuất sư biểu, nơi có câu "cúc cung tận tuỵ, chết mới thôi", không nằm trong văn tập do Trần Thọ biên soạn mà do Bùi Tùng Chi dẫn từ sách khác; tính xác thực của bài này đến nay còn tranh luận.

Sau đó là quyển 35 Thục thư Tam Quốc chí. Ai đến Trung Quốc có thể ghé Vũ Hầu từ ở Thành Đô, đền thờ ở Ngũ Trượng Nguyên (Thiểm Tây), và mộ Gia Cát Lượng dưới chân núi Định Quân, nơi ông dặn chôn mình gọn nhẹ, quan tài vừa thân, mặc áo thường, không chôn đồ quý.

Bài học còn dùng được: làm việc lớn cần cả tầm nhìn chiến lược lẫn sự kỷ luật hành chính. Gia Cát Lượng thật hấp dẫn không kém nhân vật tiểu thuyết, chỉ là theo kiểu khác: ít phép màu hơn, nhiều công việc hơn.

Câu hỏi thường gặp

Gia Cát Lượng có mượn gió đông thật không?

Không. Sử chỉ ghi khi Hoàng Cái phóng hoả ở Xích Bích thì gió đông nam đang thổi mạnh. Cảnh lập thất tinh đàn cầu gió là sáng tác của Tam Quốc diễn nghĩa.

Thuyền cỏ mượn tên là của ai?

Theo Ngụy lược, người có chuyện thuyền hứng tên là Tôn Quyền ở Nhu Tu năm 213, khi thuyền trúng nhiều tên phải quay mặt kia để giữ thăng bằng. Tiểu thuyết chuyển chuyện này sang Gia Cát Lượng và đặt vào trước trận Xích Bích.

Gia Cát Lượng bắc phạt mấy lần?

Sử ghi năm lần chính từ năm 228 đến 234. Tiểu thuyết nói "sáu lần ra Kỳ Sơn", nhưng thực tế chỉ hai lần quân Thục tiến qua Kỳ Sơn.

Không thành kế có thật không?

Không đáng tin. Chuyện này đến từ Quách Xung, được Bùi Tùng Chi dẫn rồi tự chỉ ra chỗ sai: năm 228 Tư Mã Ý đang ở Uyển thuộc Kinh Châu, không đối mặt Gia Cát Lượng.

Gia Cát Lượng mất năm nào, ở đâu?

Ông mất năm 234 trong quân ở Ngũ Trượng Nguyên, nay thuộc tỉnh Thiểm Tây, hưởng dương 54 tuổi. Ông được chôn ở núi Định Quân theo lời dặn.

Cần tư vấn cụ thể cho trường hợp của bạn?

Chúng tôi sẽ liên hệ trong vòng 24 giờ.

Đăng ký tư vấn ngay

Bài viết liên quan

Bạn cần hỗ trợ thêm?

Để lại thông tin, chúng tôi sẽ liên hệ trong 24 giờ.

hoặc
Gọi ngay 0888 831 183