Chiến TướngWiki
Tìm
Quân chế & binh lính

Thuỷ binh Việt qua các triều: từ Bạch Đằng 938 đến đầm Thị Nại 1801

Thuỷ binh là lực lượng then chốt của quân đội Việt từ Ngô Quyền đến Tây Sơn, thắng nhờ bãi cọc, con nước thuỷ triều và thuyền nhẹ: Bạch Đằng, Vân Đồn, Rạch Gầm, Thị Nại.

Thuỷ binh Việt qua các triều: từ Bạch Đằng 938 đến đầm Thị Nại 1801

Thuỷ binh là lực lượng then chốt của quân đội Việt qua mọi triều đại, vì đất nước nằm dọc bờ biển dài và chằng chịt sông ngòi. Từ Bạch Đằng năm 938 đến đầm Thị Nại năm 1801, nhiều trận quyết định vận mệnh dân tộc đã diễn ra trên mặt nước. Điểm chung xuyên suốt là cách đánh dựa vào hiểu biết địa hình sông, con nước thuỷ triều và thuyền nhẹ linh hoạt, hơn là đọ sức bằng chiến thuyền lớn.

Vì sao người Việt sống chết với sông nước

Đồng bằng sông Hồng, sông Thái Bình ở phía bắc, các cửa biển dọc miền Trung và mạng lưới kênh rạch Nam Bộ khiến đường thuỷ là đường giao thông chính suốt hàng nghìn năm. Ai làm chủ sông thì làm chủ việc chở quân, chở lương. Kẻ xâm lược từ phương Bắc thường phối hợp hai mũi: bộ binh qua biên giới phía bắc, thuỷ quân theo đường biển vào cửa sông Bạch Đằng. Vì thế, giữ cửa sông cũng là giữ nước.

Hình thuyền chở người cầm vũ khí đã xuất hiện trên trống đồng Đông Sơn, cho thấy từ rất sớm cư dân ở đây đã gắn chiến đấu với thuyền. Tuy nhiên, đó là hình ảnh nghi lễ và chưa thể nói gì nhiều về tổ chức thuỷ quân thời ấy.

Dòng thời gian: những trận thuỷ chiến làm nên lịch sử

  1. 938 – Bạch Đằng. Ngô Quyền cho cắm cọc đầu bịt sắt dưới lòng sông, dùng thuyền nhẹ nhử quân Nam Hán vào lúc nước lên, đợi nước rút thì phản công. Hoằng Tháo, con vua Nam Hán, tử trận. Chiến thắng mở ra thời kỳ độc lập lâu dài.
  2. 981 – Kháng Tống. Lê Hoàn đánh bại cuộc xâm lược của nhà Tống, trong đó có cánh thuỷ quân tiến vào vùng sông Bạch Đằng. Sử chép ông cũng cho đóng cọc để ngăn thuyền địch.
  3. 1069 – Đánh Chiêm Thành. Lý Thánh Tông thân chinh với lực lượng thuỷ quân lớn, Lý Thường Kiệt làm tiên phong, bắt được vua Chiêm là Chế Củ. Ba châu Địa Lý, Ma Linh, Bố Chính được nhập vào Đại Việt.
  4. 1075 – Tiến công đất Tống. Lý Thường Kiệt chia quân: thuỷ quân theo đường biển đánh Khâm Châu, Liêm Châu, quân bộ đánh lên Ung Châu. Đây là một trong số rất ít lần quân đội Việt chủ động đánh sang lãnh thổ phương Bắc, mục tiêu là phá các căn cứ tập trung quân lương của Tống.
  5. 1285 – Hàm Tử, Chương Dương. Trong cuộc phản công lớn của nhà Trần, Trần Nhật Duật đánh quân Nguyên ở Hàm Tử, Trần Quang Khải đánh ở Chương Dương, các trận đều diễn ra dọc sông Hồng.
  6. 1288 – Vân Đồn và Bạch Đằng. Trần Khánh Dư đánh tan đoàn thuyền lương ở Vân Đồn. Rồi trên sông Bạch Đằng, quân Trần lặp lại kỹ thuật bãi cọc, tiêu diệt và bắt sống tướng Ô Mã Nhi.
  7. 1643 – Đàng Trong đánh Hà Lan. Thuỷ quân chúa Nguyễn, do thế tử Nguyễn Phúc Tần chỉ huy, đánh bại ba tàu của Công ty Đông Ấn Hà Lan ngoài khơi Quảng Nam. Tàu chỉ huy Hà Lan bị nổ, viên chỉ huy tử trận. Sự kiện được ghi trong cả sử Việt lẫn tư liệu của người Hà Lan.
  8. 1782 – Thất Kỳ Giang (Ngã Bảy). Anh em Nguyễn Nhạc, Nguyễn Huệ đánh thuỷ quân Nguyễn Ánh ở vùng Gia Định. Viên chỉ huy người Bồ Đào Nha mà sử Việt gọi là Mạn Hoè tự đốt tàu khi bị vây.
  9. 1785 – Rạch Gầm – Xoài Mút. Nguyễn Huệ mai phục trên sông Tiền, đánh tan quân Xiêm kéo sang theo lời cầu viện của Nguyễn Ánh.
  10. 1801 – Đầm Thị Nại. Nguyễn Ánh tập kích, đốt phá hạm đội Tây Sơn trong đầm Thị Nại, tướng Tây Sơn Võ Di Nguy tử trận. Trận này làm sụp đổ sức mạnh trên biển của Tây Sơn, mở đường cho nhà Nguyễn thống nhất năm 1802.

Cách đánh đặc trưng của thuỷ binh Việt

Bãi cọc và con nước

Ba trận Bạch Đằng 938, 981 và 1288 cho thấy một kỹ thuật được truyền qua nhiều thế hệ: cắm cọc gỗ lim, gỗ táu dưới lòng sông ở chỗ hẹp, dựa vào chênh lệch thuỷ triều để cọc ẩn dưới nước lúc triều lên, nhô lên lúc triều xuống. Thuyền địch lớn, nặng, mắc cọc khi nước rút thì không thoát được. Khảo cổ học đã phát hiện nhiều bãi cọc ở vùng Yên Giang, Đồng Má Ngựa, Đồng Vạn Muối thuộc Quảng Ninh, chủ yếu được xác định gắn với trận năm 1288.

Thuyền nhẹ, đánh nhanh

Thuyền chiến Việt phần lớn là thuyền chèo, thân dài, mũi nhọn, chở được vài chục tay chèo và lính chiến. Chúng cơ động trong luồng lạch hẹp, có thể đánh rồi rút vào nhánh sông nhỏ. Đối thủ phương Bắc thường đem thuyền lớn, nhiều tầng, mạnh khi giao chiến trực diện nhưng chậm chạp trong sông ngoằn ngoèo.

Đánh lương, đánh đêm, đánh mai phục

Thuỷ binh Việt hiếm khi tìm trận quyết chiến trên biển rộng. Họ chọn đánh đoàn thuyền lương, đánh lúc đêm, mai phục ở khúc sông quen thuộc. Rạch Gầm – Xoài Mút là ví dụ điển hình: Nguyễn Huệ chọn đoạn sông dài, hai bờ cây rậm, cồn bãi che khuất, rồi dụ đoàn thuyền Xiêm lọt vào giữa.

Tổ chức thuỷ binh qua các triều

Thời kỳTổ chức và đặc điểm
Lý – TrầnChưa tách hẳn thành một ngành riêng. Quân lính vừa chèo thuyền vừa đánh bộ. Lễ hội đua thuyền ở kinh đô và các làng ven sông là một hình thức rèn luyện.
HồTheo Toàn thư, nhà Hồ cho đóng loại thuyền lớn gọi là cổ lâu thuyền để chiến đấu và chở lương, chuẩn bị đối phó nhà Minh.
Lê sơThuỷ quân được tổ chức trong hệ thống quân đội chính quy, dùng nhiều trong các cuộc chinh phạt phương Nam.
Đàng Trong (chúa Nguyễn)Thuỷ quân là thế mạnh hàng đầu, đóng nhiều thuyền chiến, dùng hoả khí, tuần tra bờ biển dài.
Tây SơnCó hạm đội lớn, nhiều thuyền to mang đại bác, căn cứ chính ở Thị Nại, Quy Nhơn.
Nguyễn (thế kỷ 19)Có ngành thuỷ sư riêng, đóng tàu bọc đồng theo mẫu phương Tây. Thời Minh Mạng từng thử đóng tàu chạy máy hơi nước.

Điểm yếu và bài học từ thất bại

Thuỷ binh Việt giỏi đánh trên sông nhà nhưng hiếm khi phát triển thành lực lượng viễn dương lâu dài. Trận Thị Nại 1801 cho thấy một hạm đội mạnh vẫn có thể bị tiêu diệt chỉ trong một đêm nếu bị đánh úp ở căn cứ. Đến giữa thế kỷ 19, khoảng cách công nghệ với tàu hơi nước bọc sắt của phương Tây đã quá lớn, thuyền chèo và thuyền buồm truyền thống không còn đủ sức đối đầu.

Góc nhìn hôm nay

Bài học lớn nhất của thuỷ binh Việt là biến hiểu biết địa phương thành lợi thế: biết lúc nào nước lên, chỗ nào luồng hẹp, nhánh sông nào thông ra đâu. Đối thủ mạnh về phương tiện nhưng không thể mạnh hơn mình về hiểu địa bàn của chính mình.

Những nơi nên đến:

  • Khu di tích Bạch Đằng Giang ở Quảng Ninh, với bãi cọc Yên Giang và các đền thờ liên quan.
  • Bảo tàng Lịch sử quốc gia ở Hà Nội, nơi trưng bày cọc gỗ Bạch Đằng.
  • Vùng đầm Thị Nại ở Quy Nhơn và di tích thành Hoàng Đế, kinh đô cũ của Nguyễn Nhạc.
  • Khu di tích Rạch Gầm – Xoài Mút bên sông Tiền.

Về sách, đọc Đại Việt sử ký toàn thư cho các trận đến thời Lê, Đại Nam thực lục cho thời chúa Nguyễn, Tây Sơn và nhà Nguyễn, và các báo cáo khảo cổ về bãi cọc Bạch Đằng.

Câu hỏi thường gặp

Thuỷ binh Việt Nam thời xưa mạnh nhất vào triều nào?

Khó chọn một triều duy nhất. Thời Trần nổi bật với chiến thắng Bạch Đằng 1288, còn thuỷ quân chúa Nguyễn ở Đàng Trong và nhà Tây Sơn thế kỷ 17–18 có quy mô và hoả lực lớn hơn hẳn, từng đánh bại cả tàu Hà Lan.

Bạch Đằng có mấy trận thuỷ chiến?

Thường kể đến ba trận lớn: năm 938 của Ngô Quyền đánh Nam Hán, năm 981 của Lê Hoàn đánh Tống và năm 1288 của nhà Trần đánh Nguyên. Cả ba đều liên quan đến việc dùng cọc và con nước thuỷ triều.

Trận Rạch Gầm – Xoài Mút diễn ra năm nào?

Năm 1785, trên sông Tiền. Nguyễn Huệ mai phục và đánh tan đoàn quân Xiêm được Nguyễn Ánh cầu viện sang.

Chúa Nguyễn đánh thắng tàu Hà Lan năm nào?

Năm 1643, thuỷ quân Đàng Trong do thế tử Nguyễn Phúc Tần chỉ huy đánh bại ba tàu Hà Lan ngoài khơi Quảng Nam. Tàu chỉ huy bị nổ, viên chỉ huy Hà Lan tử trận.

Vì sao trận Thị Nại năm 1801 quan trọng?

Trận này phá huỷ phần lớn hạm đội Tây Sơn ngay trong căn cứ, tướng Võ Di Nguy tử trận. Mất thuỷ quân, Tây Sơn không còn giữ được thế trận ven biển và sụp đổ nhanh chóng.

Cần tư vấn cụ thể cho trường hợp của bạn?

Chúng tôi sẽ liên hệ trong vòng 24 giờ.

Đăng ký tư vấn ngay

Bài viết liên quan

Bạn cần hỗ trợ thêm?

Để lại thông tin, chúng tôi sẽ liên hệ trong 24 giờ.

hoặc
Gọi ngay 0888 831 183